Ruby

Ruby Metaprograming 2

Bài viết được lược lại từ post này của tác giả Nikola Todorovic.

Hẵn bạn thường nghe rằng metaprograming là 1 cái gì đó cao siêu chỉ dành cho các Ruby ninja , chứ ko phải dành cho người dùng bình thường. Nhưng thật sự metaprograming ko đáng sợ như thế. Post này sẽ góp phần thay đổi suy nghĩ đó và đưa metaprograming đến gần hơn với các developer trung bình để họ cũng có thể hiểu và sử dụng.

Metaprogramming

Metaprogramming là một kỹ thuật hiểu đơn giản là bạn viết code, code đó tự sinh ra code một cách tự động khi nó được thực thi. Điều này có nghĩa là bạn có thể định nghĩa nhiều methodsclasses trong quá trình thực thi. Nghe hơi điên, nhỉ? Tóm lại, sử dụng metaprogramming bạn có thể mở và sửa đổi lại classes, gọi những methods không tồn tại và khởi tạo chúng khi chương trình đang thực thi, viết code DRY, và nhiều hơn thế nữa...

The basics

Trước khi chúng ra đi sâu vào những vấn đề khó hiểu, hãy bắt đầu từ những thứ cơ bản trước. Và cách tốt nhất là thông qua ví dụ để hiểu, từng bước một. Chắc bạn cũng đoán được những dòng code dưới đang làm gì rồi đúng ko:

class Developer

  def self.backend
    "I am backend developer"
  end
  
  def frontend
    "I am frontend developer"
  end

end

Chúng ta định nghĩa 1 class với 2 methods. Method đầu tiên là một class method và cái thứ 2 là instance method. Đây là những thứ cơ bản bạn đã biết trong Ruby, nhưng có rất nhiều thứ xảy ra sau những dòng code này mà chúng ta cần hiểu trước khi tiếp tục. Ta có thể thấy class Developer thực chất là một object. Trong Ruby mọi thứ đều là object, bao gồm cả classes. Khi Developer là một instance, nó sẽ là một instance của class Class

p Developer.class # Class
p Class.superclass # Module
p Module.superclass # Object
p Object.superclass # BasicObject

Điều quan trọng cần hiểu ở đây là ý nghĩa của self. Method frontend là method có thể được gọi bởi các instance của class Developer, nhưng tại sao method backend lại là một class method? Khi trình biên dịch Ruby thực thi bất kỳ đoạn code nào, nó luôn theo dõi giá trị của self trên mỗi dòng. self luôn liên quan đến object nào đó nhưng object đó có thể thay đổi dựa trên code được thực thi. Ví dụ, trong định nghĩa một class(class definition), tự thânself là class và cũng là instance của class Class:

class Developer
  p self 
end
# Developer

Bên trong instance methods, self chính là một instance của class đó.

class Developer
  def frontend
    self
  end
end
 
p Developer.new.frontend
# #<Developer:0x2c8a148>

Bên trong các class methods, self đề cập đến chính class đó (chi tiết sẽ trình bày sau):

class Developer
  def self.backend
    self
  end
end

p Developer.backend
# Developer

OK, fine. Vậy sau tất cả, class method là cái gì vậy? Trước khi trả lời câu hỏi này chúng ta cần nhắc đến sự tồn tại của cái thứ gọi là metaclass, cũng được biết đến như một singleton classeigenclass. Class method frontend mà chúng ta đã định nghĩa bên trên là 1 instance method được định nghĩa trong metaclass cho object Developer!

Metaclasses

Mọi object trong Ruby đều có metaclass của riêng nó. Có thể các developer ko để ý, nhưng nó vẫn tồn tại và bạn vẫn có thể sử dụng chúng dễ dàng. Bản chất của class Developer là 1 object, nên nó cũng có metaclass. Ở đây chúng ta có 1 ví dụ: tạo 1 object của class String và xem metaclass của nó như thế nào:

example = "I\'m a string object"

def example.something
  self.upcase
end

p example.something
# I\'M A STRING OBJECT

Ta add 1 singleton method something vào object. Điểm khác nhau giữa class methods và singleton methods là class methods available cho tất cả instances của class object trong khi singleton methods thì available chỉ cho singleton instance. Class methods được sử dụng rộng rãi trong khi singleton method ko được như thế, nhưng cả 2 loại method này đều được thêm vào 1 metaclass của object.

Ví dụ bên trên có thể được viết lại như sau:

example = "I\'m a string object"

class << example
  def something
    self.upcase
  end
end

Cú pháp khác nhau nhưng mục đích và output thì như nhau. Giờ hãy quay lại ví dụ trước, chổ chúng ta tạo Developer class và tìm hiểu thêm 1 số cú pháo định nghĩa 1 class method:

class Developer
  def self.backend
    "I am backend developer"
  end
end

Đây là cách mà mọi người hay dùng.

def Developer.backend
  "I am backend developer"
end

Đây cũng tương tự, ta định nghĩa backend class method cho Developer, mặc dù ko sử dụng self nhưng việc viết 1 method kiểu này cũng tạo ra 1 class method tương tự.

class Developer
  class << self
    def backend
      "I am backend developer"
    end
  end
end

Một lần nữa, chúng ta định nghĩa class method, nhưng sử dụng cú pháp tương tự như lần ta định nghĩa singleton method cho String object. Bạn có thể lưu ý rằng ta dùng self ở đây là để ám chỉ đến chính Developer object. Đầu tiên ta mở class Developer, gán self cho class Developer. Sau đó ta dùng class << self, gán self bằng với metaclass của Developer. Sau đó định nghĩa 1 method backend vào metaclass của Developer.

class << Developer
  def backend
    "I am backend developer"
  end
end

Khi sử dụng block kiểu thế này, ta set self cho metaclass của Developer trong suốt block. Và kết quả, method backend đã được thêm vào metaclass của Developer thay vì class.

Hãy xem metaclass như thế nào trong cây thừa kế:

Như bạn đã thấy trong những ví dụ trước, ko có bằng chứng nào về sự tồn tại của metaclass. Nhưng ta có thể sử dụng 1 chút trick để xem sự tồn tại của class ẩn này:

class Object
  def metaclass_example
    class << self
      self
    end
  end
end

Nếu ta định nghĩa 1 instance method trong Object class (ta có thể mở tất cả class bất cử lúc nào, đó là 1 trong những cái hay của metaprograming ^^), ta sẽ có self chính là Object. Ta có thể dùng cú pháp class << self để thay đổi self hiện tại thành metaclass của curent object. Method trả về self ở thời điểm này chính là metaclass. Bởi vậy việc gọi instance method này ở bất kì object nào, chúng ta đều có được metaclass của object đó. Giờ hãy cùng quay lại ví dụ, định nghĩa lại class Developer và tìm hiểu lại chút nào:

class Developer

  def frontend
    p "inside instance method, self is: " + self.to_s
  end

  class << self
    def backend
      p "inside class method, self is: " + self.to_s
    end
  end
  
end

developer = Developer.new
developer.frontend
# "inside instance method, self is: #<Developer:0x2ced3b8>"

Developer.backend
# "inside class method, self is: Developer"

p "inside metaclass, self is: " + developer.metaclass_example.to_s
# "inside metaclass, self is: #<Class:#<Developer:0x2ced3b8>>"

frontend ở trên chính là instance method của class và backend chính là instance method của metaclass:

p developer.class.instance_methods false
# [:frontend]

p developer.class.metaclass_example.instance_methods false
# [:backend]

Tất nhiên để lấy được metaclass, bạn ko cần phải mở Object và dùng cái trick này. Bạn có thể dùng luôn singleton_class mà Ruby cung cấp. Nó cũng tương đương với metaclass_example mà chúng ta đã thêm nhưng với cái trick này chúng ta sẽ hiểu hơn cách mà Ruby làm việc như thế nào:

p developer.class.singleton_class.instance_methods false
# [:backend]

Định nghĩa Missing method

Khi gọi 1 method trên 1 object, đầu tiên Ruby di chuyển đến class chứa object đó và tìm các instance methods. Nếu nó ko tìm thấy method ở đó, nó tiếp tục tìm ngược lên các cây phân cấp ở trên (the ancestors chain). Nếu Ruby ko tìm thấy method đó, nó sẽ gọi 1 method khác tên là missing_method- kế thừa từ instance method của Kernel.

define_method là 1 method được định nghĩa trong Module class, với method này bạn có thể tạo ra các method động (dynamic methods) . Để sử dụng define_method, bạn có thể gọi tên của method mới và 1 block, các param của block chính là param của method mới. Vậy thì điều khác nhau giữa defdefine_method là gì? Câu trả lời là ko nhiều, trừ khi bạn dùng define_method kết hợp với methid_missing để DRY code. Chính xác hơn, bạn sử dụng define_method thay vì def để quản lý các scope khi định nghĩa class, nhưng đó là 1 câu chuyện khác. Hãy cùng xem 1 ví dụ đơn giản sau:

class Developer
  define_method :frontend do |*my_arg|
    my_arg.inject(1, :*)
  end

  class << self
    def create_backend
      singleton_class.send(:define_method, "backend") do
        "Born from the ashes!"
      end
    end
  end
end

developer = Developer.new
p developer.frontend(2, 5, 10)
# => 100

p Developer.backend
# undefined method \'backend\' for Developer:Class (NoMethodError)

Developer.create_backend
p Developer.backend
# "Born from the ashes!"

Đây là cách mà define_method được sử dụng để tạo instance method mà ko sử dụng def. Tuy nhiên, chúng ta có khá nhiều việc để làm. Hãy xem đoạn code sau:

class Developer

  def coding_frontend
    p "writing frontend"
  end

  def coding_backend
    p "writing backend"
  end

end

developer = Developer.new

developer.coding_frontend
# "writing frontend"

developer.coding_backend
# "writing backend"

Chúng ta sẽ DRY đoạn code trên bằng cách sử dụng define_method:

class Developer

  ["frontend", "backend"].each do |method|
    define_method "coding_#{method}" do
      p "writing " + method.to_s
    end
  end

end

developer = Developer.new

developer.coding_frontend
# "writing frontend"

developer.coding_backend
# "writing backend"

Có vẻ tốt hơn rồi nhỉ, nhưng mà chưa phái là tối ưu nhất. Giả dụ ta muốn add thêm 1 method mới tên là coding_debug, ta cần phải thêm "debug" vào mảng. Nhưng với method_missing, ta có thể làm cho mọi chuyện đơn giản hơn:

class Developer

  def method_missing method, *args, &block
    return super method, *args, &block unless method.to_s =~ /^coding_\w+/
    self.class.send(:define_method, method) do
      p "writing " + method.to_s.gsub(/^coding_/, \'\').to_s
    end
    self.send method, *args, &block
  end

end

developer = Developer.new

developer.coding_frontend
developer.coding_backend
developer.coding_debug

Đoạn code trên đúng là hơi phức tạp 1 chút nhỉ. Cùng xem nào, việc gọi 1 method ko tồn tại sẽ gọi đến method_missing. Ở đây, ta muốn tạo 1 method mới chỉ khi method này bắt đầu bằng từ "coding_". Và ta sử dụng define_method để tạo method mới. Với đoạn code trên, ta có thể tạo ra cả ngàn method với tên bắt đầu bằng "coding_", và code thì luôn được DRY.

Wrapping up

Trên đây chỉ là vài tip được dẫn ra. Metaprograming còn rất nhiều thứ hay ho đằng sau nó. Khi bạn hiểu được những kỹ thuật nâng cao hơn, bạn có thể tự build cho mình Domain-specific language (DSL) riêng. Rất nhiều gem trong Rails được xây dựng dựa trên cách này, và có thể, bạn cũng đã từng sử dụng DSL mà bạn ko biết, như RSpec và ActiveRecord chẳng hạn. Hi vọng bài viết này sẽ giúp ích cho bạn 1 phần nào đó. Tạm biệt và hẹn gặp lại.

Nguồn: https://www.toptal.com/ruby/ruby-metaprogramming-cooler-than-it-sounds

Registration Login
Sign in with social account
or
Lost your Password?
Registration Login
Sign in with social account
or
A password will be send on your post
Registration Login
Registration